Giới thiệu Bỉm Sơn
Trụ sở làm việc cơ quan Thị ủy Bỉm Sơn

Vị trí địa lý: Thị xã Bỉm Sơn được thành lập ngày 18/12/1981 theo Quyết định 157/ HĐBT của  Hội đồng bộ trưởng (nay là  Chính phủ) trên cơ sở Thị trấn Bỉm Sơn (Thành lập ngày 29/7/1977 theo Quyết định 140/BT-TTg của Bộ trưởng phủ thủ tướng), Thị trấn Nông trường Hà Trung và 2 xã Quang Trung và Hà Lan thuộc huyện Trung Sơn (nay là Huyện Hà Trung – Thanh Hoá). Là đơn vị nằm ở vùng địa đầu tỉnh Thanh Hoá và của cả miền Trung, Thị xã Bỉm Sơn cách thành phố Thanh Hoá 34 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 120 km về phía Nam và  nằm ở toạ độ 2002’-2009' vĩ độ Bắc và  105047' – 105056’ kinh độ Đông. Có phía Bắc giáp tỉnh Ninh Bình, phía Nam giáp huyện Hà Trung, phía Đông giáp huyện Nga Sơn, phía Tây giáp huyện Thạch Thành ( Tỉnh Thanh Hoá). 

Diện tích tự nhiên:    6.701 ha.
Dân số:     54.971 người
Mật độ dân số : 820 người/km2

Đơn vị hành chính:

Phường Ba Đình
Phường Ngọc Trạo
Phường Bắc Sơn
Phường Lam Sơn
Phường Đông Sơn
Phường Phú Sơn
Xã Quang Trung
Xã Hà Lan

Đặc điểm địa hình: Bỉm Sơn là vùng đất có địa hình thấp dần từ tây sang đông. Đặc điểm địa chất của Bỉm Sơn thuộc đới cấu tạo Sơn La, phụ đới Ninh Bình; đất đá của vùng được tạo thành vào nguyên đại Trung sinh - kỷ Tơriát, cách ngày nay khoảng trên 300 triệu năm. Tuy diện tích không rộng nhưng Bỉm Sơn vừa có vùng đồng bằng, vùng núi đá, vùng đồi và sông suối.Vùng đồi núi kéo dài từ Tây Bắc đến Bắc Đông Bắc với diện tích 5.097,12ha, vùng đồng bằng có diện tích 1.518,98ha; núi đá có đặc điểm của những sa thạch là đá rát, đá phiến sét và xen kẽ những mạch đá vôi chìm nổi, vùng đồng bằng thuận tiện cho phát triển nông nghiệp và cũng là diện tích đất dự trữ cho phát triển đô thị
        
Khí hậu:Thị xã Bỉm Sơn chịu ảnh hưởng của ba vùng khí hậu xen kẽ là Tây Bắc – Đông bắc Bắc Bộ và cận bắc Trung Bộ. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23,60, lượng mưa trung bình đạt 1.514 mm/năm; độ ẩm không khí trung bình 80%, chế độ gió biến chuyển theo mùa, nắng lắm, mưa nhiều… 

Tài nguyên thiên nhiên

Thị xã Bỉm Sơn có nhiều tiềm năng to lớn, đặc biệt là tiềm năng khoáng sản phục vụ công nghiệp xây dựng. Diện tích mỏ đá ở Bỉm Sơn có tới 1.186,8 ha chiếm khoảng 18% tổng diện tích tự nhiên. Trữ lượng đá vôi ở Bỉm Sơn dự báo có tới vài tỷ mét khối; lượng đá vôi đã thăm dò là hơn 600 triệu m3. Chất lượng đá vôi ở Bỉm Sơn có hàm lượng ô xít canxi và ô xít mangiê rất thích hợp cho sản xuất xi măng và là nguyên liệu tốt để sản xuất các hoá chất như đất đèn, bột nhẹ, làm chất lọc đường và làm đá ốp lát. Bỉm Sơn còn có đá phiến sét có chất lượng phù hợp để sản xuất xi măng thay thế cho loại đất sét dẻo. Đá phiến sét là nguyên liệu chính xếp sau đá vôi để sản xuất xi măng Poóclăng. Hiện nay trữ lượng đá phiến sét đã thăm dò là hơn 640 triệu tấn; dự báo trữ lượng có thể lên đến hàng tỷ tấn. Ngoài hai nguyên liệu trên Bỉm Sơn còn có đất sét dẻo để làm gạch ngói, trữ lượng đủ cho các nhà máy gạch ngói có công suất 100 triệu viên/năm. Nguồn nước ngầm trong lòng đất Bỉm Sơn đã được Đoàn địa chất 47 thăm dò xác định thuộc dạng nước ngầm cáctơ, trữ lượng khá phong phú để phục vụ cho sản xuất công nghiệp.

Ngoài tiềm năng công nghiệp, Bỉm Sơn còn có khả năng phát triển về nông nghiệp, lâm nghiệp. Đất nông nghiệp ở Bỉm Sơn có 2.105 ha, trong đó hơn một nửa là đất rừng, đất vườn đồi, đất cồn bãi, có thể trồng cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp. Toàn thị xã có 90,42 ha diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản và xây dựng khu du lịch sinh thái.

                              
                                                                               Hồ cánh chim.

Do phần lớn diện tích đất đồi nên Bỉm Sơn có ưu thế mạnh về phát triển lâm nghiệp, trồng rừng, cũng là lợi thế cho phát tiển đô thị và phát triển công nghiệp. Diện tích đất lâm nghiệp ở Bỉm Sơn là: 2.419,85 ha. Toàn thị xã có 638,69 ha đất  trồng rừng phòng hộ và rừng kinh tế.

II. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI

Đến hết năm 2010, Tổng giá trị sản xuất địa bàn  thị xã Bỉm Sơn đạt 5.750.450 tr.đ; bằng 97,1% KH; Tốc độ tăng trưởng kinh tế 17,5%; GDP bình quân đầu người 2.042 USD, bằng 90,2 % KH, tăng 7,6% so CK; Thu ngân sách địa bàn  327.427 tr.đ bằng 131% KH, tăng 55,9% so CK, giá trị xuất khẩu đạt  40 triệu USD bằng 160%KH, tăng gấp hai lần so CK; cơ cấu kinh tế: Công nghiệp – xây dựng  76,3%, Thương mại - Dịch vụ 19,4%, Nông – Lâm nghiệp 4,3%.

                                            
                                                    
                                                                          Công ty CP Xi Măng Bỉm Sơn.

Giáo dục – Đào tạo:
 Tiếp tục được giữ vững; củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục TH đúng độ tuổi, phổ cập THCS. Tăng cường đổi mới công tác quản lý, đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Triển khai thực hiện phong trào thi đua ‘‘Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” và cuộc vận động ‘‘ Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” bước đầu đã đạt được kết quả nhất định; tổ chức tuyển chọn, bồi dưỡng học sinh tham dự các kỳ thi học sinh giỏi đạt kết quả khá; tổ chức thành công kỳ thi Olimpic THPT thị xã Bỉm Sơn lần thứ hai; chuẩn bị các điều kiện để học sinh TN lớp 12 tham dự kỳ thi tuyển sinh vào các trường ĐH, CĐ năm 2010: Kết quả trường THPT Bỉm Sơn đỗ ĐH 70% (nguyện vọng 1, nguyện vọng 2); trường THPT Lê Hồng Phong đỗ ĐH 20,6%; CĐ 23,7%; Trung tâm GDTX đỗ ĐH và CĐ 12,1%. Năm học 2009 -2010 có thêm 02 trường THCS được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia toàn thị xã lên 11 trường (THPT:1; THCS 03; TH 06; MN 01 trường). Toàn Thị xã có 55/65 làng, khu phố văn hoá, tỷ lệ 84,6%; có 58/69 cơ quan, doanh nghiệp, trường học đăng ký cơ quan văn hoá và được công nhận vào cuối năm, tỷ lệ 82,7%; có 80,6% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá, tăng 2,6% so CK. Phong trào quần chúng rèn luyện sức khoẻ theo gương Bác Hồ tiếp tục đẩy mạnh, gia đình thể thao đạt 37,3%, tăng 1,8% so CK; số người thường xuyên luyện tập thể thao đạt 40%, tăng 1,6% so CK.

Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015
. 


     

Tổng giá trị sản xuất 15.303 tỷ đồng;
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 20,5%;
- GDP bình quân đầu người:  3.160 USD;
- Cơ cấu kinh tế: CN-XD 71,6%, TM-DV 26,3%, NLN 2,1%;
- Thu ngân sách địa bàn 600tỷ đồng;
- Dân số thị xã   100.000 người;
Tỷ lệ tăng dân số 7,8%, trong đó tăng tự nhiên  dưới 1%

              
                                                Toàn cảnh Nhà máy ôtô VEAM – Khu CN Bỉm Sơn.
 
- Giải quyết việc làm 10.000 người trở lên;

 - Tỷ lệ hộ nghèo dưới 2%, cận nghèo dưới 3,5%.

 - Tỷ lệ hộ xem truyền hình và nghe đài 100%;

- Xây dựng 89,6% đạt danh hiệu làng, khu phố văn hoá, 90% cơ quan văn hoá, 83,6% gia đình văn hoá, 55,6% người thường xuyên luyện tập thể thao, 42% gia đình thể thao.

III. CƠ SỞ HẠ TẦNG - DỊCH VỤ

 Hệ thống giao thông

Hiện nay mạng lưới giao thông thị xã Bỉm Sơn đạt 136 km bao gồm cả đường Quốc Lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, đường Tỉnh Lộ 7, đường Liên huyện và hệ thống giao thông nội thị, mật độ giao thông đạt 5km/km2, tỷ lệ chiếm đất đạt 10%. Một số tuyến đường chính như tuyến đường Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy qua Thị xã với tổng chiều dài là 9,8 km, đường Tỉnh Lộ 7 đi Huyện Thạch Thành dài 4,7km, đường liên Huyện Bỉm Sơn – Nga Sơn dài 12km; các tuyến đường nội thị chính như: Đường Trần Phú 4,5km, Đường Trần Hưng Đạo 5,0km, đường Nguyễn Văn Cừ 3,4km, Đường Bà Triệu 3,95km, Đường Lê Lợi dài 3,5km…

Dịch vụ Bưu chính viễn thông:

Lĩnh vực dịch vụ Bưu chính - Viễn thông trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn những năm vừa qua phát triển khá mạnh, đến nay Thị xã đạt 32 máy điện thoại/100dân, bình quân sử dụng internet ADSL đạt 0,85 thuê bao/100dân. Cơ quan Thị uỷ, các Đoàn thể, UBND Thị  xã, UBND xã, phường đã nối mạng internet và trao đổi công việc qua hệ thống mạng WAN.

Điện năng:

Nguồn điện thị xã Bỉm Sơn được cấp từ 2 trạm 110KV. Hiện nay thị xã có 3 trạm trung gian 35/6KV và 45 trạm hạ thế 6/0,4KV;  toàn thị xã có 101,92 km đường dây hạ thế; tổng điện năng tiêu thụ là 292.658.856 KW/h/ năm, bình quân sử dụng điện năng sinh hoạt đạt 275 KWh/người/năm, Số hộ dùng điện trực tiếp với chi nhánh điện đạt 9.790 hộ, bằng 71,3%.

Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt:

Hiện nay trên địa bàn thị xã có 02 nhà máy cung cấp nước sinh hoạt với công suất 16.000m3/ngày đêm do Xí nghiệp nước Bỉm Sơn quản lý.

Hệ thống y Tế:

Bệnh viện Đa khoa Bỉm Sơn.

Trung tâm Y tế dự phòng Bỉm Sơn

Trạm xá các xã phường;

Có 62 cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập.

Có 05/8 xã phường đã được công nhận xã, phường đạt chuẩn Quốc gia về y tế.

Thị xã đang xúc tiến thực hiện dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện tư nhân ACA Bỉm Sơn quy mô 100 gường bệnh.

Hệ thống Ngân hàng:

Ngân hàng Công thương Bỉm Sơn ( Chi nhánh cấp 1)

Ngân hàng Đầu tư Bỉm Sơn           ( Chi nhánh cấp 1)

Ngân hàng Nông nghiệp Bỉm Sơn

Ngân hàng Chính sách xã hội Bỉm Sơn

Chi nhánh Ngân hàng VP Bank Bỉm Sơn.

Hệ thống Nhà thi đấu TDTT – Nhà văn hoá:

Nhà thi đấu TDTT thị xã - Phường Ba Đình - Bỉm Sơn.

Nhà thi đấu TDTT Công ty Xi Măng Bỉm Sơn - Phường Đông Sơn - Bỉm Sơn

Nhà hát công nhân Thị xã - Phường Ba Đình - Bỉm Sơn

Khu văn hoá thể thao Phường Ngọc Trạo 

Hệ thống Khách sạn – Nhà nghỉ:

Trên địa bàn Bỉm Sơn hiện có 21 Nhà nghỉ, khách sạn, trong đó có 19 nhà nghỉ và 03 khách sạn. Với tổng số phòng là 152 phòng . Tổng doanh thu khách sạn, nhà hàng, dịch vụ du lịch đạt 11.235Tr tăng bình quân hàng năm 6.8%.  Số ngày lưu trú bình quân tăng từ 1,0 ngày khách năm 2006 đến 1,2 ngày khách năm 2007.

 IV. NHỮNG TRANG SỬ VÀNG

- Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới: 01 đơn vị

- Huân chương độc lập: 01 đơn vị

- Huân chương lao động hạng nhất: 3 đơn vị

- Huân chương lao động hạng nhì: 4 đơn vị

- Huân chương lao động hạng ba: 13 đơn vị

- Huân chương chiến công:   2

- Cờ thi đua của Chính phủ: 3

- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: 09

- Bằng khen của Bộ, cơ quan ngang Bộ: 60

- 07 Bà mẹ được tặng và Truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng

- 03 Anh hùng Lực lượng vũ trang;

- 5.056 người được nhà nước khen thưởng có công trong kháng chiến.